Mỗi ngày hầu hết chúng ta đều uống cà phê nhưng chúng ta đã hiểu hết về loại cà phê mà mình đang uống? trước tiên đó là cà phê Arabica:

Cà phê arabica là gì?
Cà phê arabica còn có tên gọi là cà phê chè trong tiếng Việt. Cà phê arabica là loại cà phê được phát hiện trước robusta, có lịch sử lâu đời hơn robusta. Arabica có mùi thơm rất đặc trưng, vị cà phê thoang thoảng. Giống cà phê này có hàm lượng caffeine thấp hơn robusta. Arabica có vị chua thanh và không cho cảm giác mạnh như robusta. Trên thị trường cà phê thế giới, cà phê arabica luôn bán được giá hơn so với robusta; với mức chênh lệch cao hơn thường gấp đôi.

Nguồn gốc tên Arabica?
Tên gọi cà phê arabica có lẽ được xuất phát từ địa danh bán đảo Arabia (bán đảo Ả rập – Arabia Peninsula). Tương truyền, sau khi cà phê được phát hiện tại Ethiopia của châu Phi, thức uống đặc biệt này đã du nhập vào bán đảo Ả rập vì bán đảo này rất gần với Ethiopia và là cửa ngỏ đi vào châu Âu của châu Phi. Nhận thức được giá trị to lớn của loại thức uống cà phê, người Ả rập đã ra sức giữ bí mật của nó với phần còn lại của thế giới nhằm độc quyền. Cái tên arabica ra đời có thể vì lẽ đó. Mocha, một tên khác của cà phê arabica, có lẽ cũng xuất phát từ địa danh Mocha, là một cảng biển của Yemen thuộc bán đảo Ả rập, phía bên kia bờ biển Đỏ.
 
Arabica

Cà phê arabica có bao nhiêu loại?
Về mặt thương mại, có bốn loại cà phê arabica thuần chủng phổ biến và một loại cà phê arabica tương đối thuần chủng. Bốn loại thuần chủng là Caturra, Bourbon, Mocha và Typica. Một loại tương đối thuần chủng là Catimor. Tại Việt Nam trong quá khứ, cà phê arabica chủ yếu được trồng là loại Bourbon và Mocha. Mocha ở Việt Nam còn được gọi là Moka hay Moca. Hiện nay, cà phê arabica được trồng phố biến tại Việt Nam lCatimor trong khi chỉ còn một số lượng rất nhỏ cà phê Bourbon và Mocha vẫn còn được trồng tại Đà Lạt.

Ngược lại, Catimor hiện là loại cà phê arabica phổ biến nhất được trồng tại Việt Nam từ Lâm Đồng cho tới miền Trung và Tây Bắc. Catimor không phải là arabica thuần chủng vì nó được lai từ hai giống Caturra (một loại arabica) vTimor (một loại lai giữa arabica và robusta). Cà phê Timor được tìm thấy trên đảo Timor là loại lai tạp giữa arabica và robusta và, quan trọng nhất, chống được bệnh gỉ sắt thường gặp trên cây cà phê arabica. Do vậy, Catimor hiện được trồng phổ biến ở Việt Nam do chúng kháng được bệnh gỉ sắt.

Cà phê arabica được trồng phổ biến ở đâu tại Việt Nam?
Cà phê arabica là loại cà phê khó trồng. Arabica còn được gọi là cà phê núi cao (mountain coffee) vì điều kiện đầu tiên là nơi trồng cà phê phải có độ cao từ 1.000m tới 1.500m so với mực nước biển. Ngoài yếu tố địa lý phải xung quanh vùng xích đạo, yếu tố độ cao, cheo leo trên các sườn núi dốc, cà phê chè còn đòi hỏi nhiệt độ sinh trưởng dịu mát thích hợp l16 – 25oC, lượng mưa trung bình năm trên 1.000mm và biên độ nhiệt ngày và đêm cao. Vì được trồng trong điều kiện thuần khiết như vậy, nên hương vị và chất lượng của cà phê arabica vượt trội hơn hẳn so với robusta. Các vùng trồng cà phê arabica cheo leo hiểm trở như vùng Blue mountain của Jamaica luôn cho ra đời những hạt arabica chất lượng hàng đầu.

Việt Nam cũng có những vùng trồng cà phê arabica nổi tiếng như Cầu Đất, Đà Lạt nằm trên cao nguyên Langbian rộng lớn với các dãy núi cao Yang Bông (1.749m), Hòn Giao (1.948m) hay Langbiang (2.163m) và nhiệt độ mát lạnh quanh năm. A Lưới, Thừa Thiên Huế với các núi cao Động Ngai (1.774m), đỉnh Cô Pung (1.615m), Re Lao (1.487m), Tam Voi (1.224m) cũng hứa hẹn cung cấp các hạt cà phê arabica ngon hảo hạng. Ngược xa về phía Tây Bắc có cà phê arabica Chiềng Ban (Sơn La) mà tiềm năng có thể nổi tiếng như cà phê Kona, Hawaii.

Nhìn chung, so với cà phê robusta, sản lượng cà phê arabica của Việt Nam hiện nay còn khiêm tốn (khoảng 60.000 tấn/ năm), chủ yếu tập trung ở Lâm Đồng. Nhà nước cũng có chính sách đặt mục tiêu tăng trưởng cà phê arabica đạt 200.000 tấn vào năm 2020 trong đó chú trọng phát triển ra miền Trung và Tây Bắc. Cà phê chè tại Việt Nam thường được chế biến ướt sau thu hoạch và nhu cầu tiêu thị nội địa cũng khá lớn.

Phân loại cà phê arabica.
Tại Việt Nam, cà phê arabica được phân loại theo sàng. Phổ biến nhất là sàng 16 và sàng 18. Sàng 16 có đường kính hạt cà phê nhân(hay kích thước lỗ sàng) l6,30mm và sàng 18 là 7,10mm. Ngoài kích thước, cà phê nhân arabica còn được tính phân loại theo độ ẩm, tạp chất, tỷ lệ hạt đen vỡ và tỷ lệ hạt trên sàng. Cà phê arabica tại Việt Nam đôi khi cũng được phân loại theo xuất xứ. Tại Lâm Đồng, vùng trồng cà phê arabica nổi tiếng nhất tại Việt Nam hiện nay, người ta đôi khi phân loại, arabica vùng cao và arabica vùng thấp. Arabica vùng cao được xem là chất lượng vượt trội hơn như arabica Cầu Đất. Hay arabica Lâm Đồng khi so với arabica Buôn Ma Thuột. Nhìn chung, đây cũng là hình thức phân loại tương đối. Tuy nhiên, riêng cà phê arabica Cầu Đất hiện nay được xem như cà phê đặc sản.

Arabica tại Việt Nam được tiêu thụ như thế nào?
Cũng giống như thị trường quốc tế, arabica được định vị là cà phê chất lượng cao tại Việt Nam. Những người uống arabica thật sự là những người sành cà phê. Tuy nhiên, cà phê arabica tại Việt Nam thường được gọi với tên duy nhất là Moka trong khi đa số arabica hiện nay tại Việt Nam là chủng Catimor. Và ngoài rang mộc (espresso), cà phê arabica tại Việt Nam thường được rang với bơ. Vì xu hướng ẩm thực đậm đà, cà phê pha arabica thường được dùng với sữa đặc có đường và pha bằng phin. Xu hướng gần đây, nhiều người uống cà phê thích phối trộn giữa cà phê arabica và robusta để có một tách cà phê vừa thơm vừa đậm đà.

Do kinh tế phát triển và nhiều người trở nên bận rộn hơn, phin pha cà phê dường như không còn thích hợp vì phải chờ lâu,cùng với sự du nhập của phong cách uống cà phê nước ngoài, nhiều người yêu thích cà phê trong nội địa đang chuyển dần qua sử dụng máy pha cà phê hoặc thậm chí cà phê viên nén (single serve – k cup hay coffee capsule) để tiết kiệm thời gian và trải nghiệm thêm phong cách pha mới. Ngoài cà phê sữa đặc truyền thống, giới trẻ hiện nay cũng tỏ ra thích thú với các cách pha cà phê theo kiểu Tây như cappuccino, latte hay machiato...

Tóm lại, arabica là loại cà phê có lịch sử lâu đời và được ưa chuộng bởi nhiều tín đồ cà phê trên thế giới. Arabica có thể xuất phát từ tên Arabia (Ả rập). Cà phê này có vị chua thanh đặc trưng và có hàm lượng caffeine thấp, hương vị quyến rũ, mê hoặc. Arabica phải được trồng ở các nơi cao, nhiệt độ mát mẻ, lượng mưa đều và biên độ nhiệt chênh lệch ngày đêm lớn. Tại Việt Nam, cà phê arabica còn được gọi là cà phê chè và thường được hiểu lMoka. Tuy nhiên, thực tế sản lượng trồng chủ yếu tại Việt Nam là giống Catimor đã được lai với một giống robusta và có khả năng kháng bệnh rỉ sắt (leaf rust). Arabica tại Việt Nam chủ yếu được pha bằng phin và dùng với sữa đặc có đường; tuy, hiện có xu hướng trong giới trẻ là pha cà phê bằng máy và uống theo kiểu phương Tây. Cà phê arabica của Việt Nam cũng rất ngon và đặc trưng với một số vùng trồng nổi tiếng như Cầu Đất, A Lưới vChiềng Ban của tỉnh Sơn La.

 
Nguồn Cà phê giá sỉ

Dòng cà phê Catimor ( Đọc tiếp bài liên quan )

Cà phê có ba dòng chính là cà phê Arabica (cà phê chè), cà phê Robusta (cà phê vối) và cà phê Liberica (cà phê mít).

 Trong đó cà phê Arabica được đánh giá cao hơn và được ưa chuộng nhất vì hương vị thơm ngon, chua thanh và chứa ít hàm lượng caffein.
 
Các chủng cà phê thuộc dòng Arabica đặc biệt thơm ngon có Bourbon, Typica, Mocha (moka), đây là những chủng cà phê có lâu đời nhất trên trái đất. Tuy vậy cả ba chủng này rất khó trồng vì năng suất thấp, dễ bị sâu bệnh nên dần bị loại ra khỏi các rẫy cà phê và được thay thế dần bởi chủng Catimor - loại được phát triển tại Bồ Đào Nha năm 1959. Catimor là sự lai tạo của hai giống Caturra và Timor (Timor lại là sự lai tạo của dòng Robusta với Arabica). Có nghĩa là Catimor có 1/4 "máu" Robusta. Liệu có phải điều này khiến cho Catimor vẫn có độ đậm đà đáng kể?
 
cà phê Catimor Sơn La

Catimor có đặc điểm dễ trồng, năng suất cao và có thể kháng được sâu bệnh. Hiện nay, đối với Arabica ở Việt Nam, Catimor được trồng phổ biến rộng rãi ở hầu hết các vùng nguyên liệu cà phê lớn trên cả nước là Lâm Đồng, ĐakLak, Đak Nông, Quảng Trị, Nghệ An, Sơn La.

Riêng ở vùng đất Sơn La, khu vực Chiềng Ban, Chiềng Mung có sản lượng cà phê Catimor chiếm phần trăm nhiều nhất và sản phẩm Arabica của ACAFE có nguồn chính từ khu vực Sơn La này để đem lại loại cà phê chất lượng tốt nhất cho sức khỏe của bạn.
 
Acafe tổng hợp
 
 

Cà phê nguyên chất - Arabica Sơn La ( Đọc tiếp bài liên quan )

Cà phê nguyên chất, vị đắng không gắt, nhẹ, hơi ngọt, không đọng lại lâu vị đắng trong miệng, uống nước trà hay nước lọc tráng miệng là hết ngay.

Vì lợi nhuận và không có kinh nghiệm, nhất là kiến thức về chế biến cà phê còn hạn chế, nên trên thị trường cà phê Việt nam còn rất hỗn độn, quá nhiều cơ sở chế biến cà phê ra đời, người tiêu dùng rất phân vân khi lựa chọn cho mình một loại cà phê ngon, thực phẩm an toàn.

Nhiều cơ sỏ kinh doanh mạnh, tiếp thị rầm rộ nhưng thực chất cà phê chưa đạt được chất lượng và nhất là thực phẩm an toàn (dùng hoá chất quá nhiều)

1. Khối lượng (thể tích)
Bột cà phê nguyên chất luôn luôn có khối lượng riêng thấp hơn bột các loại ngũ cốc khác, Nếu có điều kiện so sánh, bạn cầm trong tay trong 2 bịch 500g, bịch nào chứa cà phê, (hay chưa tỷ lệ bột cà phê nhiều) thì sẽ nhiều đầy hơn, to hơn, khối lượng bột chứa bên trong nhiều hơn nên chúng ta có cảm tưởng bịch cà phê nguyên chất nhẹ hơn.

2. Độ xốp của bột cà phê
Bột cà phê nguyên chất xốp nhẹ, có khối lượng riêng thấp, nên có khuynh hướng nổi lên trên, còn bột của các hạt ngũ cốc khác có khối lượng riêng lớn hơn , nên chìm xuống nhanh hơn.

cà phê chè sơn la

3. Độ ẩm của bột cà phê
Bột cà phê pha tạp, không nguyên chất có vẻ ẩm ướt, thậm chí vón cục khi được tẩm nhiều caramen tạo màu, khác hẳn với bột cà phê thật rất khô và tơi xốp.

4. Màu của bột cà phê
Khi rang đến nhiệt độ và thời gian thích hợp…bột cà phê có màu nâu đậm. Do thói quen người tiêu dùng đòi hỏi ly cà phê phải có màu đen, Mặt khác, hạt các đậu nành rang và xay ra bột có màu nâu ngã vàng đục, hoàn toàn không giống màu nâu đậm của bột cà phê thật.

 cà phê chè sơn la 2

5. Mùi của bột cà phê
Nhiều người vẫn bị lầm lẫn và đánh giá cao mùi của hương liệu hóa học được tẩm vào đậu, bắp bởi vì họ ít có dịp ngửi mùi cà phê bột nguyên chất. Bột đậu nành có mùi gắt, hòa quyện với hương liệu bốc lên một mùi thơm nặng nề chứ không dịu dàng như mùi nguyên thủy của cà phê rang

6. Phân biệt khi đang pha
Quá trình rang hạt cà phê nở lớn, bên trong tạo ra các khoang không khí, gặp nước sôi, không khí bên trong nở lớn, làm sủi bọt bột cà phê và khiến bột cà phê thật trào lên trong phin. Đây là một hiện tượng rất dễ nhận ra.. Bột bắp, bột đậu rang khi gặp nước sôi trở nên dẻo, dính và xẹp xuống do các loại ngũ cốc luôn có chứa nhiều tinh bột

7. Màu của nước cà phê
Ly cà phê thật luôn có màu nâu từ cánh gián đến nâu đậm, khi cho đá vào sẽ có màu nâu hổ phách, một màu nâu rất trong trẻo. Để ra ánh nắng, nhìn ly cà phê đá có màu nâu sang.

Phân biệt cà phê thật giả Phân biệt cà phê thật giả

                                Cà phê Thật                                                Cà phê giả

8. Mùi thơm của ly cà phê pha
Thật khó diễn tả, nhưng nếu quen với mùi cà phê nguyên chất bạn sẽ phát hiện ra mùi hóa chất tuy giả khá giống mùi cà phê nhưng vẫn là giả tạo, vẫn mang hương vị gay gắt, tuy mạnh mẽ, dai dẵng nhưng thô thiển và gây cảm giác nặng nề, không giống như mùi thanh cao của chính hạt cà phê đích thực

9. Vị cà phê
Phần lớn người Việt không nghĩ rằng cà phê có vị chua. Thậm chí một số không chịu chấp nhận một thuộc tính cố hữu, tuyệt vời của cà phê hảo hạng, đó là vị chua thanh quyến rũ hòa quyện tinh tế với vị đắng tự nhiên

10. Bọt cà phê
Nếu bọt mỏng tanh, có óng ánh màu cầu vồng, đánh lên đầy cả ly và rất lâu tan nhìn ly cà phê có vẻ khá đẹp thì chắc chắn đấy là bọt xà bông. Bọt cà phê nguyên chất khá đồng đều về kích cỡ, đục hơn và trông “dày” hơn, nhưng mau xẹp xuống

11. Phân biệt cuối cùng là trải nghiệm của chính bạn
Cuối cùng, rất thực tiển, là chính bạn, vào 1 ngày đẹp trời nào đó , bạn hãy bỏ chút thì giờ ra tiệm bán cà phê hạt đã rang của Coffee Tree mua vài lạng cà phê mộc. Rồi bạn sẽ biết cà phê đích thực là gì…. Đây là cách tốt nhất để mếm biết hương vị tinh khiết của cà phê nguyên chất

Nguồn sonlacoffee.com.vn

Cây cà phê chè (Arabica) ( Đọc tiếp bài liên quan )

Cà phê chè là tên gọi theo tiếng Việt của loài cà phê có (tên khoa học là: coffea arabica) do loài cà phê này có lá nhỏ, cây thường để thấp giống cây chè một loài cây công nghiệp phổ biến ở Việt Nam.

Cà phê Arabica 1

Cây cà phê chè

Cà phê Arabica 2

Mô tả cây cà phê chè

Đây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê. Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới. Cà phê arabica còn được gọi là Brazilian Milds nếu nó đến từ Brasil, gọi là Colombian Milds nếu đến từ Colombia, và gọi là Other Milds nếu đến từ các nước khác. Qua đó có thể thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng được đánh giá cao nhất. Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, Mexico, Guatemala, Honduras, Peru, Ấn Độ.

Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao. Người ta thường trồng nó ở độ cao từ 1000-1500 m. Cây có tán lớn, màu xanh đậm, lá hình oval. Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 4-6 m, nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m. Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê.

Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho thu hoạch. Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được nữa. Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm. Cây cà phê arabica ưa thích nhiệt độ từ 16-25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm.

Trên thị trường cà phê chè được đánh giá cao hơn cà phê vối (coffea canephora hay coffea robusta) vì có hương vị thơm ngon và chứa ít hàm lượng caffein hơn. Một bao cà phê chè (60 kg) thường có giá cao gấp 2 lần một bao cà phê vối. Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng chủ yếu là cà phê vối. 

​Lý do khó phát triển cà phê chè do độ cao ở Việt Nam không phù hợp, hiện tại chỉ có vùng Cầu Đất - Đà Lạt (nơi có độ cao 1500m so với mực nước biển) đang chuyên canh loại cà phê này.

Nguồn Wikipedia

 

Cùng danh mục

  • Phút tĩnh lặng bên ly cà phê
    Phút tĩnh lặng bên ly cà phê

    Như một thói quen cố hữu, mỗi khi trong lòng trĩu nặng ưu tư, tôi lại dong xe rong ruổi trên những con đường. Đường phố nhộn nhịp, hối hả càng làm tăng thêm cảm giác bơ vơ, lạc lõng.

  • Chiếc máy pha chế cà phê ra đời thế nào?
  • Cách pha cà phê sữa lắc thơm ngon
    Cách pha cà phê sữa lắc thơm ngon

    Trong bài viết trước chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn cách pha cà phê bằng phin, tuy nhiên đó chỉ là cách đơn giản nhằm giúp cho những ai sành cà phê muốn thưởng thức trọn vẹn sự tinh tế từ hương vị nguyên chất.

Xem tất cả